Trang chủ Cảm Thi sĩ ngôn sứ

Thi sĩ ngôn sứ

301
0
Chia sẻ

“Thơ có sứ mệnh cứu chuộc cuộc đời, thơ là hóa thân thiêng liêng của nụ cười. Thơ là tiếng thở dài làm khô giọt nước mắt. Thơ là thần khí nương náu trong linh hồn mà dưỡng chất của nó là trái tim và rượu của nó là lòng thương cảm. Thơ không đến trong hình thức ấy chỉ là đấng Cứu thế giả.” (Kahlil Gibran)

Kỉ nguyên máy móc nở rộ, hứa hẹn đưa bước chân loài người tiến nhanh hơn, xa hơn. Tuy nhiên, cũng chính kỉ nguyên ấy ngầm giáng đòn chí mạng vào loài thi sĩ, đẩy bước chân thi sĩ lùi lại, gần hơn vào vực sâu diệt chủng.

“Và quí vị, những thi sĩ chân chính, xin hãy tha thứ chúng tôi. Chúng tôi thuộc vào Thế giới mới nơi loài người chạy theo lợi ích trần thế, và thơ cũng thế, là hàng hóa hôm nay, và không là hơi thở của bất tử.”

Thơ thành hàng hóa thì viết thành nghề, thi sĩ thành thương nhân. Rơi vào cảnh túng hèn, thi sĩ viết thơ bằng chất xám nhầy đặc như khói nhà máy, và rao bán thơ với tiếng leng keng của trí tượng tượng bị xiềng xích, quay cuồng giữa lớp lớp chợ phiên cốt để lấp đầy miếng cơm manh áo. Sau cùng, thi sĩ cũng biết đói, biết lo những nỗi niềm con con thế trần.

Và như thế, giống loài thi sĩ cứ vơi dần, rơi dần vào hố tuyệt vọng. Thi sĩ lật đật kéo nhau trút bỏ phần số thiêng liêng, rời xa tiếng thì thầm của Thượng đế để lao vào bề bộn thanh âm hỗn tạp. Sau cùng, họ đáng thương hơn là đáng trách. Bởi, còn ai muốn viết, khi con chữ chẳng cán đáng nổi đời sống oằn gánh trên vai? Còn ai muốn hát về Cái Đẹp, khi vạn vạn mắt, tai chung quanh đã mù điếc?

Và Kahlil Gibran, người đã bước vào giữa thế gian trong cảnh ấy. Gibran bước đi như dòng suối dịu hiền, và ngôn ngữ trong tay người tốt lành như sóng nước tưới mát cho bao trái tim thi sĩ vốn đã khô héo vì tuyệt vọng cùng cực. Nơi nào in dấu hơi thở của ông, nơi đó lóe sáng hi vọng, dù chỉ là chút mong manh.

Kahlil Gibran – ngôn sứ từ thiên đường

Vậy thì, Gibran là ai? Ông có phải đấng siêu nhiên với sức mạnh ưu việt? Không. Ông chỉ là một thi sĩ. Ông cũng sinh ra từ máu thịt trần thế, ông lại nghiện rượu, thuốc lá, và uống rất nhiều cà phê, vốn chẳng thơ chút nào. Nhưng tâm hồn ông thì thơ, và trái tim ông tràn ngập tình yêu, Cái Đẹp và bóng hình Thượng Đế. Mang theo sức mạnh của hạt giống từ tâm Thượng Đế, Gibran là hiện thân của Thượng Đế, là “thi sĩ ngôn sứ” từ thiên đường giáng xuống chốn bụi hồng.

Để từ đó, ông truyền bảo định mệnh cho giống loài thi sĩ, từ ngày loài ấy có mặt trên cõi đất này.

“Bạn là người anh em của tôi vì tôi thương yêu bạn; cả hai chúng ta đều là con của một Tinh thần độc nhất; chúng ta chẳng hơn ai và được làm thành bởi cùng một thứ đất.”

Thi sĩ, như loài người, đều là sản phẩm nhào nặn nên từ thứ đất tuyệt mĩ dưới bàn tay Thượng đế. Thế nhưng, trên hành trình tìm kiếm văn minh, nhân loại dần rơi vào vòng xoáy của mông muội và lầm lạc, dần tách ra khỏi vòng tay Thượng đế.

“Loài người là tinh thần của Đấng tối cao nơi trần thế, và Đấng tối cao giảng dạy tình yêu cùng thiện chí. Nhưng dân chúng chế giễu lời rao giảng ấy.”

Sự sống văn minh càng phát triển, con người càng bám víu vào mảnh đất thế trần cằn cỗi với cơ man của cải, dục vọng, nhưng lại quên rằng mảnh đất cần nuôi dưỡng nhất là tâm hồn, và loại đất diệu kì nhất là Vườn Địa Đàng. Nhưng thi sĩ chẳng quên điều đó. Thi sĩ luôn khao khát Cái Đẹp từ tâm, vốn vượt lên trên cái óng ánh và xa xỉ của bạc vàng, gấm vóc cùng chất rượu sóng sánh. Và vì thế, nên dẫu là anh em của loài người, tâm hồn thi sĩ dệt nên từ tình yêu và ánh sáng – chất liệu của các vị thần.

 

“Y được châm đầy dầu

bởi thần nữ tình yêu Ishtar

và chiếu sáng

bởi thần nam âm nhạc Apollo.”

Bởi âm hồn ấy trong veo như băng ngọc, nên Thượng đế tin yêu, và định mệnh thi sĩ hình thành. Hơn hết, sứ mệnh của thi sĩ là trở thành ngôn sứ cho Thượng Đế. Y là sợi dây nối liền giữa đôi thế giới – cao siêu và trần tục. Y ban phát lời Đấng Tối Cao như rừng thông ban phát hạt vàng, rải mầm giống sự sống khắp thế gian. Để từ đó, những cây tình yêu, thấu hiểu và cảm thông nảy nở trong trái tim nhân loại. Để từ đó, ánh sáng thông tuệ dần thay thế cho bóng tối vô minh, cứu chuộc cuộc đời khỏi mớ xiềng xích đang bóp nghẹt tâm hồn.

“Thơ có sứ mệnh cứu chuộc cuộc đời, thơ là hóa thân thiêng liêng của nụ cười. Thơ là tiếng thở dài làm khô giọt nước mắt. Thơ là thần khí nương náu trong linh hồn mà dưỡng chất của nó là trái tim và rượu của nó là lòng thương cảm. Thơ không đến trong hình thức ấy chỉ là đấng Cứu thế giả.”

Thi sĩ đến với loài người như anh em, mang theo trái tim thuần khiết và thiện chí, nhưng loài người dường không hiểu được. Trong đáy mắt vốn quá đục bẩn bụi phàm, nhân loại nhìn thi sĩ như lũ dị biệt, đám quái thai của giống nòi. Chẳng dị biệt sao? Loài thi sĩ! Này đây bày ra trước chúng đủ thứ của cải, từ bạc vàng, đến ngà và gỗ mun, chúng dường không màng tới. Này đây giữa bao tửu sắc mĩ lệ, chúng ngoảnh mặt đi để cất tiếng hát mà đôi tai ngoạn thưởng là bọn khốn khổ, khốn nạn. Này đây giữa bài ca khải hoàn vang lên hùng tráng, chúng gào thét đòi bình quyền cho những bóng ma vô danh vô xứ. Này đây giữa hoan lạc thế trần, chúng lại khao khát Thần Chết nâng tải linh hồn chúng về với Đấng Tối Cao mà khoa học phủ nhận sự tồn tại.

Và cứ thế, loài người ôm khư khư mối định kiến sâu dài suốt ngàn ngàn năm lịch sử, để rồi đè át lên vai thi sĩ là nỗi sầu bi muôn thuở: cô độc. Thi sĩ bước đi trong nhân gian như kẻ lữ hành cô độc giữa vũ trụ, dân tộc và cả mớ gai chằng chịt quấn vào bản thể.

Cái cô độc bầu bạn với cái lãng quên. Cái cô độc vịn vào cái lãng quên càng đau da diết. Dẫu sinh thời vẫn chẳng thiếu thi sĩ được vinh danh, trọng vọng, nhưng phần đông kẻ cầm bút vẫn chẳng thể thoát nổi cái thâm u đáng sợ của dòng cát bụi thời gian đang dần bóp nghẹt những “đứa con tinh thần” của họ. Thế nhưng, trước sức mạnh vô biên của thời gian, họ còn có thể làm gì ngoài bất lực ngóng chờ lưỡi hái của Thần Chết. Mà chỉ có cái chết, mới là sự bắt đầu cho tâm hồn thi sĩ.

Một cuộc sống mòn, quạnh không lối thoát.

Gibran đã chỉ ra, nghiệp gánh trên vai thi sĩ là cô độc, lãng quên và bất lực tù túng. Ấy thế mà dẫu có vác bao kham khổ, thương đau, dường loài thi sĩ vẫn chẳng kiên cường, bám cố. Dẫu trong kỉ nguyên máy móc, ngàn ngàn thi sĩ đã buông xuôi, thì vẫn luôn hữu hiện những kẻ cứng đầu vẫn cắm chặt tâm hồn vào ngòi bút. Chính họ khiến loài người phải giật mình: sức mạnh nào đã khiến những kẻ ấy dữ dội, bền bỉ và kiên cố đến vậy?

Bởi thi sĩ, chính là định mệnh. Định mệnh đã bơm vào từng huyết cầu của thi sĩ tình yêu Cái Đẹp, để dẫu nghiệp viết có chênh chao thì trái tim họ vẫn vững vàng. Định mệnh đã in vào từng thớ thần kinh của thi sĩ bóng dáng Thượng đế, để dẫu bóng tối có xâm chiếm thì tâm hồn họ vẫn lấp lánh ánh sáng từ Đấng Tối Cao. Và định mệnh, đã đưa những vị khách viễn lai đến với thi sĩ qua con chữ, để dẫu cả thế gian có quay mặt, thi sĩ vẫn còn tri âm đó để thấu bày, để vững tin vào tương lai xán lạn cho cả đôi giống loài.

“Đúng thế, nghệ thuật của ngươi không đơn lẻ, vì đối với chúng tôi, những người đang đi trên con đường rực sáng, đang tìm kiếm cái không thể đạt tới, đang vươn tới cho cái không thể với tới, chúng tôi biết ngươi, chúng tôi nghe ngươi, chúng tôi yêu thương ngươi và chúng tôi xem ngươi là cao trọng.”

Gibran tin tưởng họ, và chúng ta – loài người – hoàn toàn có đủ cơ sở để tin vào họ. Thi sĩ, những ngôn sứ!

An Nhiên

Bình luận facebook