Trang chủ Cảm Bá vương biệt Cơ: bóng ma của Kinh Kịch

Bá vương biệt Cơ: bóng ma của Kinh Kịch

273
0
Chia sẻ

Liệu Địa Ngục chỉ dành cho sinh vật? Liệu thứ thời gian cuốn đi chỉ có những sinh mệnh sống bằng trái tim đỏ hòn? Tử Thần là gã tinh ranh hơn thế, đôi khi con người ta không chết vì ngừng thở, mà chết vì linh hồn và tinh thần đã chết. Tử Thần nhẹ nhàng giáng đòn chí tử xuống Nghệ Thuật – cái quyết định và đánh dấu sự tồn tại của một lớp người, hàng thế hệ, cả quốc gia và nhất là linh hồn của những kẻ gọi mình là nghệ sĩ.

Một trong những giai thoại về cái chết nổi tiếng nhất, được người đời nhìn nhận lại thậm chí trao giải thưởng danh giá là câu chuyện của Kinh Kịch, của những người nghệ sĩ chân chính mà đại diện là Trình Điệp Y qua bộ phim Bá Vương Biệt Cơ của đạo diễn Trần Khải Ca. Bộ phim là tiếng khóc từ thời Kinh Kịch còn là bông hoa thủy tinh bất diệt đến khi sứt mẻ rồi tan vỡ hẳn. Vẻ đẹp của Kinh Kịch quyện với vẻ đẹp của tình yêu hát lên khúc ca bi tráng về số phận của những gánh hát thời đại và của những con người xã hội cũ. Như hơi thở lạnh lẽo, như vết dao cứa lẹm sắc, như ánh nắng hoài cổ không đủ nhiệt, nhạt màu, Bá Vương Biệt Cơ từ từ chạm đến cảm xúc và suy tư sâu thẳm nhất, khuấy lên cơn sóng lòng phẫn nộ, nuối tiếc và kính ngưỡng trước cái đẹp của nghệ thuật và những con người dũng cảm.

Bá Vương Biệt Cơ là bộ phim được đạo diễn tài ba Trần Khải Ca chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Lý Bích Hoa. Bộ phim quy tụ dàn diễn viên “phái thực lực” Trương Quốc Vinh – một Trình Điệp Y thần sầu, đa cảm, Trương Phong Nghị – Đoàn Tiểu Lâu với bề ngoài oai phong, anh hùng bễ nghễ nhưng thực chất hèn nhát, tiểu nhân và nàng Củng Lợi Cúc Tiên lanh lợi, sắc sảo. Có lẽ nếu không phải tài tử Trương Quốc Vinh, Trương Phong Nghị, không phải nàng Củng Lợi, không phải Trần Khải Ca chẳng thể có tuyệt phẩm Bá Vương Biệt Cơ rúng động cả thế giới: đây là bộ phim duy nhất của Trung Quốc cho đến nay giành được Cành cọ vàng của Liên Hoan phim Cannes.

Lấy bối cảnh lịch sử là những giai đoạn thay bậc đổi ngôi đầy hỗn loạn của xã hội Trung Hoa, bộ phim kể về cậu bé Đức Chí sinh ra trong kĩ viện, bị mẹ đưa vào gánh hát. Ở đây người đầu tiên đứng ra bảo vệ, chia sẻ và quan tâm cậu là Sĩ Tứ. Đức Chí được “đo ni đóng giày” cho vai nàng Ngu Cơ trong vở Bá Vương Biệt Cơ, còn Sĩ Tứ vai Bá Vương. Trong vô thức, cậu bé tự sửa lại lời thoại “bản chất ta là nữ, không phải nam” thành “bản chất ta là nam, không phải nữ.” Sau nhiều trận đòn, Đức Chí cuối cùng đành từ bỏ bản chất thật và quyết định sống với vai diễn đó.

Sau này Đức Chí lấy nghệ danh là Trình Điệp Y, Sĩ Tứ là Đoàn Tiểu Lâu. Như nàng Ngu Cơ yêu Sở vương, Điệp Y cũng yêu Sở vương của đời mình là Tiểu Lâu. Kể cả khi Tiểu Lâu đã lấy nàng kĩ nữ đáo để Cúc Tiên, tình yêu đó vẫn nguyên vẹn, không thay đổi. Do đó Điệp Y luôn coi tình địch Cúc Tiên là yêu nữ mê mụ Tiểu Lâu.

Vào những năm 60-70 của thế kỉ trước, một sự kiện kinh động lịch sử nhân loại và lịch sử nghệ thuật, cách mạng văn hóa Trung Quốc nổ ra. Tiểu Sĩ – tên học trò ruột của Điệp Y đã đưa Điệp Y, Tiểu Lâu cùng những nghệ sĩ Kinh Kịch ra đấu tố giữa đường. Để bảo toàn mạng sống, Đoàn Tiểu Lâu không tiếc lời chỉ trích Điệp Y và Kinh Kịch, đồng thời chối bỏ mọi quan hệ với vợ là nàng Cúc Tiên. Quá đau lòng, Cúc Tiên tự tử. Đáng hận, người đau lòng cho nàng nhất không phải anh chồng Tiểu Lâu bao năm chung sống mà là tình địch Điệp Y. Tình yêu của hai người đều bị phản bội, vỡ vụn. Mười một năm sau, Điệp Y và Tiểu Lâu gặp lại nhau trong quá trình chuẩn bị cho buổi kỉ niệm 200 năm Kinh Kịch Bắc Kinh. Tiểu Lâu đùa giỡn và sửa lại lời kịch “Bản chất ta là nam, không phải là nữ” cho Điệp Y. Điệp Y hỏi: “Tại sao ái thiếp lại phải chết?” rồi rút gươm của Tiểu Lâu tự vẫn. Bộ phim dừng lại ở đấy, ánh đèn sân khấu khép lại với bi kịch của Điệp Y cũng giống nàng Ngu Cơ năm xưa. Tại sao ái thiếp phải chết và vì sao Điệp Y phải chết?

Tại sao ái thiếp phải chết và vì sao Điệp Y phải chết?

Cả bộ phim là chuỗi bi kịch lồng bi kịch. Bi kịch của vở Bá vương biệt cơ lồng nỗi đau của mỗi số phận nhân vật. Và bi kịch đẹp nhất, buồn nhất được phản chiếu qua đôi mắt đa sầu đa cảm của Điệp Y “Một nụ cười sẽ mang đến cả mùa xuân. Một giọt lệ làm đen tối cả đất trời”.  Chính bản thân Điệp Y là một “trò đùa của số phận”. Đức Chí (Điệp Y lúc nhỏ) được sinh ra trong kĩ viện, một cậu bé xinh trai với bàn tay sáu ngón. Để đẩy cậu vào gánh hát, người mẹ tự tay cầm dao chặt đi ngón tay thừa, chặt sống! Tiếng thét chói tai, xé ruột như tiếng cười trào phúng của cuộc đời báo hiệu tấn trò đời ở tương lai sắp tới. Đó là thời kì Kinh Kịch được ưu ái đặt chễm chệ trong lòng chế độ cầm quyền và cả xã hội. Kinh Kịch cười còn những đứa trẻ trong gánh hát thì khóc. Chúng ăn cơm trộn với máu và nước mắt để trở thành những nghệ sĩ thực thụ và đem nguồn tiền cho đoàn kịch. Có những đứa trẻ bỏ trốn, bị bắt lại và đánh đập dã man, có những đứa trẻ lẻn ra nhất thời để được ăn món mình hằng mong bấy lâu rồi trở về treo cổ tự tử. Đức Chí phải lớn lên ở nơi khắc nghiệt, tàn nhẫn, nhưng điều khủng khiếp nhất là việc cậu phải từ bỏ giới tính của mình và sống với vai diễn Ngu Cơ. Ngày công diễn đầu tiên, cậu lọt vào mắt xanh của Trương Công Công và bị ông ta hãm hiếp. Có lẽ, kể từ ngày mà sự nghiệp Kinh Kịch của cậu nở hoa thì Đức Chí đã chết, nhường chỗ cho Trình Điệp Y tiếp tục sống rồi.

Bởi thế không nhấn mạnh tình yêu đồng tính như tiểu thuyết, bộ phim truyền tải thông điệp “Mỗi người chịu trách nhiệm cho số phận của mình”. Từ nhỏ, không ai dạy Điệp Y sự khác biệt giữa sân khấu và đời sống, chỉ có nước mắt, máu và những trận đòn. Nhưng Điệp Y không hoàn toàn mù quáng. Khoảng khắc cậu đọc lời thoại “bản chất ta là nữ, không phải nam” cậu đã lựa chọn để Đức Chí ra đi, trở thành một nàng Ái Cơ Trình Điệp Y và Kinh Kịch hóa thành cuộc đời cậu.

Cũng như Điệp Y, Tiểu Lâu là nạn nhân của một thời đại, trước những tác động của cộng đồng buộc phải bán rẻ bản ngã và trở nên hèn mạt. Sĩ Tứ (Tiểu Lâu trước kia) là cậu bé dũng cảm, tình nghĩa luôn bảo vệ cho Đức Chí. Sự thay đổi từ Sĩ Tứ thành Tiểu Lâu hèn nhược là cả một quá trình với những báo hiệu đầu tiên qua lời Viên đại nhân: “Khi Sở vương về gặp Ái nương, ngài phải đi bảy bước nhưng cậu lại chỉ bước có năm bước. Nếu Sở vương không có được sự uy nghi của Hoàng đế, trông ngài sẽ chỉ như tên cướp.” Hay khi Tiểu Lâu mặc Điệp Y bị tên học trò Sĩ Tứ cướp vai Ái Cơ mà vẫn diễn Sở Vương. Đỉnh điểm là lúc Tiểu Lâu phản bội Điệp Y, phản bội Kinh Kịch khi bị đấu tố, Điệp Y mới cay đắng nhận ra Sở vương không hề tồn tại ngoài đời. “Cả Sở vương cũng quỳ gối xin tha mạng, tuồng cổ Bắc Kinh sao có thể chịu được nỗi ô nhục này?”

Kinh Kịch “thôi đã rồi” thì Ái Cơ tất phải chết. Điệp Y nhận ra chàng có yêu Tiểu Lâu, nhưng là yêu hình bóng Bá vương anh hùng trên sân khấu của Tiểu Lâu. Chàng đồng nhất tinh thần, tâm hồn với Ái Cơ, coi cuộc đời mình là vở kịch. Như William Faulkner đã nói chàng – một nghệ sĩ “là sinh vật bị quỷ ám”, bán linh hồn và tận hiến với nghệ thuật. Nên khi nhận ra Bá Vương chẳng hề tồn tại, khi Tiểu Lâu sửa lại lời thoại cho đúng với sự thật Ái Cơ buộc phải ra đi. Tình yêu suốt bao nhiêu năm không phải dành cho Tiểu Lâu mà dành cho Kinh Kịch. Đối với Điệp Y, Kinh Kịch là đời sống.

Cuộc đời Điệp Y kết thúc như nàng Ngu Cơ năm xưa. Khi Sở Vương bại trận, ái thiếp Ngu Cơ múa một bài kiếm rồi rút gươm tự sát. Tại sao ái thiếp phải chết? Ái Cơ chết không phải vì tình yêu với Sở vương mà còn vì tình yêu thiêng liêng đối với đất nước. Vậy tại sao Điệp Y phải chết? Bởi vì chàng muốn bảo toàn sự trung kiên của mình giống như Ngu Cơ. Nhưng không phải là trung kiên với Bá vương Tiểu Lâu mà là với Kinh Kịch. “Với Trình Điệp Y, chẳng có cái gì là giả cả. Cuộc đời chàng chỉ có sân khấu, vậy nếu nó là giả chàng cũng là giả. Và giả thì sao có thể chết? Nhưng chàng chết thật, vậy sân khấu với chàng chính là cuộc sống, là sự thực.” Cả bộ phim là tiếng khóc âm ỉ, bế tắc. Cái chết của chàng khiến khán giả ám ảnh mãi.  

Bá Vương biệt Cơ còn là khúc nhạc ngợi ca Cái Đẹp. Dù quân Nhật là kẻ thù của Trung Hoa, chúng vẫn thán phục vẻ đẹp đích thực của nghệ thuật. Ông chỉ huy Nhật nghe Điệp Y hát đã đưa Kinh Kịch về phổ biến ở Nhật. Đó chính là sự tôn sùng cái đẹp không biên giới, không màng đến chủng tộc, quốc gia. Hay Quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tuy bát nháo, lỗ mãng, cũng phải thừa nhận nét đẹp của Kinh Kịch.

Những tưởng Kinh Kịch là viên ngọc chẳng bao giờ lụy tàn như chính lời của sư phụ Điệp Y: “Là con người không ai không xem hát. Chỉ có loài súc sinh như chó, lợn mới không tới rạp.” Thế nhưng khi Cách mạng Văn hóa nổ ra, đám đông cuồng nộ đã xóa sạch mọi thứ gắn mác “phong kiến”, kể cả những cái đẹp nghệ thuật hay nhân cách. Người ta cổ xúy cho Kinh Kịch hiện đại với nhân vật là giai cấp công nông dân, ca ngợi lãnh tụ và chế độ, diễn viên mặc quần áo bình thường, giản dị. Đó chính là sự lên ngôi của văn hóa đại chúng. Đã tầm thường thì không còn là nghệ thuật, như Arnold Schoenberg quan niệm: “Nếu nó là nghệ thuật, nó không dành cho tất cả, và nếu nó dành cho tất cả, nó không phải là nghệ thuật.”

Trước sự chỉ trích Kinh Kịch của hồng vệ binh, Điệp Y quyết tâm bảo vệ chuẩn mực của nó: “Mỗi âm thanh là một bài hát, mỗi cử chỉ là một điệu múa.” Với chàng, nghệ thuật chính là sự khổ luyện đạt đến đỉnh cao chân-thiện-mỹ. Nhưng rồi người ta dựng các vở kịch hiện đại xấu xí, nhàm chán để truyền bá, ca ngợi lí tưởng cách mạng. Xã hội không còn tôn sùng cái đẹp duy mĩ nữa, Điệp Y chọn cái chết bất diệt, chối bỏ sự tầm thường.

Một thập niên mất mát 1966-1976, rất nhiều loại hình nghệ thuật khác cũng chịu chung số phận với Kinh Kịch. Như cổ cầm, nhiều người phải hủy cầm đi, đốt các bí phổ, có người gan hơn, giấu kĩ trong nhà nhưng cấm có dám lấy ra đàn một tiếng. Cách mạng văn hóa là sự kết liễu nền văn hóa Trung Quốc, phản bội Kinh Kịch, Cổ Cầm học, Võ học,…. – nền văn hóa 5000 năm vô giá. Có những người như Tiểu Lâu, rũ bỏ quả khứ, đoạn tuyệt với cuộc sống cũ để ca tụng văn hóa hiện đại. Có những nghệ sĩ chân chính như Điệp Y, quyết bảo vệ chuẩn mực nghệ thuật chân chính. Cao thủ Hình ý quyền ở Bắc Kinh là Hứa Duy Nhân không chịu nổi sự lăng nhục, đã giết chết Hồng vệ binh rồi tự sát, gây chấn động giới võ lâm. Họ đều hoặc tự sát như Điệp Y hoặc không hòa nhập được với cuộc sống mới, ám ảnh không thể thoát ra và trở thành những bóng ma thời đại.

Ngày nay những gánh hát Kinh Kịch dần vắng bóng trên đường phố. Vẫn còn đó những Điệp Y kiên trung với Kinh Kịch diễn hàng giờ trước hàng ghế khán giả lạnh lẽo. Phải chăng những gánh hát thời đại của Kinh Kịch rồi sẽ cáo chung, tận diệt như cuộc đời của Điệp Y và Ái Cơ để bảo toàn sự chuẩn mực và trung kiên với cái đẹp, với nghệ thuật, với Kinh Kịch chân chính?

Không thể phủ nhận điều làm nên cái hồn bộ phim là ánh mắt thần sầu của Điệp Y. Điệp Y rất ít khi mở lời, bởi ánh mắt đã thay chàng nói lên tất cả từ tình yêu, sự ghen tuông, phản bội cùng nỗi tuyệt vọng. Ánh mắt chất chứa nỗi niềm, xứng đáng với miêu tả trong tiểu thuyết: “Một nụ cười sẽ mang đến cả mùa xuân. Một giọt lệ làm đen tối cả đất trời.”

Những thước phim hoài cổ, lúc gào, lúc khóc và những cái chết đem đến nhiều cung bậc cảm xúc từ phẫn nộ, nuối tiếc, xót thương đến thán phục, cảm mến. Có những cái chết không phải của một sinh mệnh mà của giá trị vô giá, của tinh thần và linh hồn. Bi kịch nàng Cúc Tiên là của một người dân tuyệt vọng trước sự phản bội của chính xã hội mà cô sống. Còn bi kịch của Điệp Y là bi kịch của những nhà nghệ thuật duy mĩ cổ điển chân chính trước làn sóng tầm thường hóa của chủ nghĩa hiện đại, trước chủ trương đê hèn “giết nhầm còn hơn bỏ sót” của Cách mạng Văn hóa Trung Hoa.

Bộ phim không chỉ nói về số phận của những con người xã hội cũ, còn cảnh tỉnh con người hiện đại về sự đấu tranh âm ỉ của cái đẹp mọi thời đại. Bi kịch trên vẫn đã đang và sẽ tái diễn. Văn hóa chưa kịp hồi phục đã phải gồng mình chống đỡ. Thế nhưng cái đẹp chẳng thể tay vác gươm giáo tầm thường, mình mặc giáp trụ sáng choang để tự vệ. Và những người có tâm hồn đẹp, những nghệ sĩ tài ba vẫn chưa đủ. Cần lắm lòng trắc ẩn, dũng cảm đứng lên bảo vệ cái đẹp như Trình Điệp Y.

Cái hay, cái lạ là ở chỗ xem Bá Vương Biệt Cơ nhân tâm phải tĩnh, đã từng khóc, từng yêu hết mình, từng mong muốn bảo vệ một ai đó, một giá trị nào đó. Cần trau dồi vốn hiểu biết nhất định, nhân sinh quan biết phản biện từ chính xã hội hiện đại và quá khứ để thấu được hết tiếng khóc oan của những con người xã hội cũ, của Kinh Kịch. Sự tầm thường thì không phải nghệ thuật và nghệ thuật thì không tầm thường!

Chu Hạ

 

Bình luận facebook